Monthly Archives: Tháng Ba 2008

Được biết đến như một quốc gia rộng lớn với phong cảnh thiên nhiên hữu tình, những công trình kiến trúc, những di tích lịch sử cổ xưa và cả nền văn hóa đa dạng. Trung Hoa lục địa mang dáng dấp kiêu sa, tuyệt mỹ. Mỗi mùa mỗi sắc, mỗi nơi mỗi cảnh. Vừa hiện đại, vừa cổ kính, mê hoặc lòng người đến da diết, thấm sâu…
Thành phố hoa Côn Minh nằm ở độ cao 1.500 mét so với mặt nước biển, khí hậu lạnh nhưng không buốt giá vào mùa đông, và ấm áp vào mùa hạ. Là nơi lý tưởng để trồng nhiều loài hoa quý hiếm. Đến với Côn Minh, bạn sẽ không khỏi ngỡ ngàng khi nhìn thấy hoa được trồng và chăm chút tỉ mỉ, trưng bày ở khắp mọi nơi. Từ các công viên, nhà ga, đến các trục đường cao tốc, vòng xoay… Đặc biệt, những giỏ hoa này được các nghệ nhân tạo hình thành nhiều kiểu dáng thật đẹp và lạ mắt, làm tôn thêm vẻ đẹp hiện đại của những tòa nhà trọc trời, những cửa hàng thời trang cao cấp hàng đầu thế giới, những công trình kiến trúc cổ… Nếu có dịp đến thành phố hoa vào các ngày rằm, bạn sẽ may mắn được ngắm mặt trời lặn ngả bóng xuống đường theo hướng đông ở Bích Kê phường, và theo hướng Tây của Kim Mã phường. Anh hoàng hôn thật đẹp khi bóng chiều ngả xuống con đường từ cả 2 phía, rồi dần đan xen vào nhau một cách kỳ diệu. Cạnh đó là di tích Đại Quan lầu, một trong những công trình kiến trúc được xây dựng làm nơi huấn luyện thủy binh thời nhà Minh, đến thời vua Khang Hy đã trở thành nơi tụ họp của các tao nhân mặc khách, các bậc văn sĩ cùng nhau thưởng nguyệt bình thơ.

Ở Đông Nam, cách thành phố Côn Minh khoảng 86 km là di tích Thạch lâm, còn gọi là “Rừng đá” với diện tích rộng khoảng 350 km, từng được Unesco công nhận là di sản thiên nhiên của thế giới. Đứng trước kỳ quan thiên nhiên độc đáo này, bạn sẽ phải trầm trồ ngợi khen sự tuyệt mỹ của tạo hóa, và mê mẩn ngắm nhìn cánh rừng đá trải dài ngút ngàn, xa khuất tầm mắt. Đây đó, còn lưu lại dấu chân của đoàn làm phim Tây Du Ký trong từng “mét” da của đất, từng thớ thịt của rừng. Không dừng lại ở đó, Côn Minh còn được mọi người biết đến như một thành phố của lễ hội. Do đặc thù của một thành phố đa chủng tộc, hầu như quanh năm nơi đây đều tưng bừng rộn rã âm hưởng của lễ hội. Từ lễ hội té nước của người Thái, Tết nở hoa của người Mèo đến lễ hội chợ tháng 3 của người Bạch…

Rời thành phố hoa Côn Minh, bạn sẽ được thỏa sức tham quan thành cổ Đại Lý. Nơi trước kia là vương quốc của người Bạch (từ năm 937 – năm 1253), có diện tích khoảng 1.400 km2, với dân số trên 400.000 người; từng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của Vân Nam ở thế kỷ XIII. Đặc biệt là công trình kiến trúc thành cổ Đại Lý (hay còn gọi là Tử Cấm Thành) được xây dựng vào năm 1832, với tường thành cao 7,6m, rộng 6m, chu vi 12 dặm. Cách thành Đại Lý 1 Km về phía Bắc bên bờ Nhị Hải, là nơi tọa lạc của Tam Tháp Đại Lý, với 3 ngọn tháp tạo thành hình tam giác, tháp chính là Thiên Tuần Tháp cao 69m, 16 tầng, được xây dựng vào thời nhà Đường. Cạnh đó là di tích Sùng Khánh, được xây dựng vào năm 834 – 840, một trong những điểm tham quan thu hút khách du lịch vào bậc nhất.

Từ Côn Minh, xuôi theo hướng Tây Bắc bạn sẽ đến với một Venice của Phương Đông: Lệ Giang. Đây là thành cổ được xây dựng từ cuối thời nhà Tống đầu nhà Nguyên. Khác hẳn với vẻ hiện đại sôi động của Côn Minh, Lệ Giang mang dáng vẻ tĩnh lặng, thâm trầm. Khi bước chân vào lãnh địa vùng Lệ Giang, bạn sẽ tưởng như mình lạc vào một vùng đất thời phong kiến xưa. Trước mắt là những con đường lát đá, những mái nhà cổ cong vút, những con kênh nhỏ lững lờ trôi, và còn hàng liễu xanh đứng nghiêng mình e ấp bên cây cầu đá… tất cả tạo nên một Lệ Giang đẹp đến mê hồn. Không chỉ có vậy, Lệ Giang còn là nơi tựu trung của rất nhiều dân tộc như Hán, Na-xi, Bạch… đến với Lệ Giang bạn sẽ tìm thấy phong cách kiến trúc độc đáo, đa dạng của nhiều nền văn hóa giao thoa với nhau, để khi trở về nỗi xao xuyến hôm xưa thêm nhung nhớ lạ kỳ..
Sài Gòn thường mê hoặc bước chân người đi bởi tấm áo lộng lẫy kiêu sa của từng góc phố, hàng cây, hay con hẻm dài hun hút lá me bay mỗi chiều nhạt nắng. Những khi đó, chỉ cần dặn lòng ngừng lại, một không gian hẻm phố sẽ mở ra với muôn vàn lối nhỏ tưởng chừng như vô tận, nửa chào đón, nửa thân quen đến lạ kỳ.
Không mang nhiều ký hiệu kiến trúc của làng nông thôn, bóng dáng cây đa, hay đền miếu như ngõ Hà Nội, lối vào hẻm đất Sài Gòn chỉ là một lối đi qui ước được hình thành một cách tự nhiên theo địa thế với những ngôi nhà nằm kề nhau, ôm ấp những mảnh đời không giống nhau của những con người tứ xứ tụ hội về mảnh đất này cùng lập nghiệp. Ngõ chỉ là ngõ, hẻm chỉ là hẻm, nhưng lối đi nho nhỏ không tên (thường chỉ có số cho dễ phân biệt) ấy cứ đan xen vào nhau như một mê cung, xuyên từ phố này qua phố kia, rồi trổ ra đại lộ chính đầy bất ngờ. Bởi có hẻm, là có từ “đột ngột hiện ra…”, không đột ngột hiện ra một tiệm chạp phô, thì hiện ra xe hủ tiếu, hàng bún riêu, bún ốc… hay hiện ra một bà bán bánh mì, hiện ra mấy chiếc bàn gỗ nhỏ cà phê cóc theo kiểu bình dân… và chạm phải vô số mặt tiền đường lớn đến ngạc nhiên.

Không chỉ vậy, có thể nói hẻm phố Sài Gòn là một không gian văn hóa đậm đặc, đầy ắp. Ở đó người ta chia sẻ với nhau mọi nỗi buồn vui, sướng khổ, nhọc nhằn và cả những mâu thuẫn trong đời sống thường ngày. Có khi trở thành vô khối ký ức với người này, người nọ như: “Hồi đó, mỗi rằm tháng bảy tui rủ thằng bạn chạy từ hẻm này qua hẻm khác giựt đồ cúng cô hồn, rằm tháng tám thì xếp hàng rước đèn ống lon luồn lách khắp xóm qua những con hẻm quanh co. Đêm giao thừa lại được áo mới, giày mới cũng đi qua những ngõ hẻm theo mẹ lên chùa…” thân mật và gần gũi biết dường nào. Chẳng thế mà ai muốn khám phá Sài Gòn, đều phải thăm những con hẻm để lắng nghe hơi thở, nhịp đập của thành phố phương Nam này.
Sài Gòn bây giờ đã vắng nhiều những tiếng rao: “Bánh mì nóng giòn đâ..â..ây”, “Ai ăn xôi khúc hông?”…, nhất là về đêm. Dù vậy, không thiếu những người bán hàng rong vẫn quang gánh kĩu kịt từng con hẻm quanh co giữa ồn ào xe cộ, khiến người ta ít nhiều có những ký ức mông lung gợi nhớ, đi đâu xa lại chạnh lòng nhớ tiếng rao đêm, tiếng chổi của những người quét rác, tiếng bước chân người qua lại, tiếng gõ phát ra từ những xe hủ tiếu mì… vang đi khắp xóm.

Có thể bây giờ phố không còn trẻ đâu
Tiếng rao đêm đã khàn hơn một chút
Trong mưa khuya nhớ thương lời rao sáng
Giữa nắng ngày thương nhớ tiếng rao đêm
(Sài Gòn trong khúc nhớ quên – thơ Trần Kiêu Bạc, California)
Chẳng rõ vài thập kỷ nữa những con hẻm sẽ ra sao, hay thành phố nhiều năm biến đổi chỉ còn những tòa nhà trọc trời, những đường xe điện ngầm “xuyên bang”, với quán xá tấp nập như một thành phố bên dưới một thành phố, không cách chi tìm được một con hẻm nhỏ. Ngay con hẻm bây giờ cũng đã thay đổi nhiều. Một cơ thể kiến trúc từ sự rõ ràng của những lối đi, cho đến sự mạch lạc của từng ngôi nhà, quện chặt với nếp sống của người trong hẻm, giờ đang biến dạng trong nhu cầu sống của con người. Song có điều lạ là với không gian chật chội này, cứ chiều chiều lũ trẻ có thể níu nhau từ nhà này qua nhà khác để chơi đùa. Mấy bà, mấy chị có thể hội nhau lại cùng nhặt rau chung. Cánh đàn ông dễ bề tận dụng lối đi hẻm làm thành sân sửa xe, hay quán cà phê xóm nho nhỏ. Cuộc sống cứ thế trôi êm dịu trong một không gian hẻm đầy thi vị. Cái “tối lửa tắt đèn” ấy chắc chắn sẽ theo mãi đến tận tuổi già của ai đó, để người đi xa hiểu đường xá dù thay tên đổi họ, dù cơi rộng nới đường, thì mãi mãi hẻm phố Sài Gòn vẫn hằn in trong ký ức mỗi cư dân hẻm.

Ai cũng biết sữa đậu nành là loại thức uống ít béo, không có cholesterol rất có lợi cho sức khỏe, đồng thời bổ sung hàm lượng canxi và calo. Nhưng ít ai biết uống sữa đậu nành pha với mật ong có khả năng “đột tử”…  Nói tới đây, cô bạn đồng nghiệp tôi cười ha hả “trước giờ không biết vụ này đó, may quá chưa thử, nhưng mà nếu thử rồi chắc cũng không sao đâu yên tâm đi, may là xứ mình toàn mật ong giả không hà”.

 

Cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 100km về phía tây nam, theo quốc lộ 22, du khách sẽ đến với vùng đất Tây Ninh. Nơi đây không chỉ nổi tiếng với lễ hội núi bà, và những món đặc sản, mà còn được biết đến bởi Tòa thánh Tây Ninh tôn nghiêm và đường bệ.
Thẳng tiến theo truc đường Xuyên á – Quốc lộ 22, du khách sẽ đi qua những vùng đất nổi tiếng như Hóc Môn với 18 thôn vườn trầu, hay Củ Chi – nơi được mệnh danh là “Đất thép thành đồng” của quê hương miền nam. Để cuối cùng, du khách sẽ đến vùng đất Tây Ninh hiền hòa, làm say lòng du khách bởi cảnh đẹp núi bà hay những cánh đồng bát ngát xanh tươi. Và chắc chắn trong hành trình khám phá đó, du khách không thể bỏ qua điểm tham quan độc đáo của vùng đất này – Tòa thánh Tây Ninh.
Tòa thánh Tây Ninh thuộc xã Long Thành Bắc, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, cách trung tâm thị xã Tây Ninh khoảng 5km về phía đông nam. Tòa thánh có nhiều tên gọi khác nhau như Đền Thánh, Tổ đình hay Tòa thánh Trung Ương. Kiến trúc của Tòa thánh được phân bố theo trục đông tây. Theo đó cửa chính được quay về hướng tây.
Tòa thánh được khởi dựng vào năm 1927, với mái tranh vách ván. Công trình bắt đầu được xây dựng kiên cố vào tháng 10/1931. Trãi qua nhiều đợt thi công gián đoạn, sau cùng tòa thánh cũng đã hoàn thành vào ngày 24/01/1947. Đây là mô hình kiến trúc hoành tráng về qui mô, nằm trong một không gian rộng lớn khoảng 1km2, với nhiều cây xanh rợp mát. Tòa thánh có chiều dài khoảng 97,5m, chiều rộng khoảng 22m và chiều cao trên 28m. Bao quanh tòa thánh là 156 cột tròn, được trang trí bởi những phù điêu đắp nổi hình rồng quấn quanh mang nhiều màu sắc như: xanh, đỏ, vàng bố trí dọc theo dãy hành lang, mặt chính diện của Tòa thánh, Cửu trùng đài và Bát quái đài. Ngoài ra, còn có nhiều mảng phù điêu khác liên quan đến nhiều truyện tích xưa của tam giáo. Tiêu biểu như chiếc bình Bát Vu của nhà Phật, cây chổi Phất trần của Đạo giáo, quyển sách Xuân Thu của Khổng giáo hay hình tượng của 8 con kim mao hẩu – vật cưỡi của Văn thù Bồ tát ở 4 dãy cầu thang bên hông…. Ngoài ra, du khách còn thấy nhiều hình tượng rồng xuất hiện khắp trên hai hàng cột uy nghi nằm trong Cửa Trùng đài và vô số hoa lá với màu sắc sặc sở uốn theo những mái vòm của hai dãy hành lang dọc theo chiều dài Thánh thất. Đặc biệt là hình tượng của con Kỳ lân nằm trên nóc Nghênh Phong đài, đầu hướng về phía tây nhưng ngoảnh mặt về phương đông. Có thể nói, Tòa thánh là một công trình kiến trúc đẹp và là điểm đến có sức thu hút đặc biệt đối với du khách trong và ngoài nước khi tham quan. Tại đây, du khách vừa có thể thư giãn nghỉ ngơi trong không gian yên bình, nghe tiếng chim hót líu lo sau những tán lá xanh mượt. Trong màu xanh thanh bình ấy, in lên nền trời là hình bóng của cội đa râm bóng và hai ngọn tháp vươn cao vời vợi càng điểm tô thêm cho vẻ đẹp tôn nghiêm của chốn này.
Một lần về Tây Ninh dự lễ hội núi bà, du khách ghé vào thưởng thức tô bánh canh hay đặc sản bánh tráng phơi sương Trảng Bàng để thấy thêm yêu vùng quê đầm ấm, của những con người chân chất mộc mạc đã bao đời, hay hương vị đậm đà của quê hương và có cả những công trình kiến trúc mang đậm dấu ấn rất nam bộ. Trong đó, Tòa thánh Tây Ninh là một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu đó.
Là một thành phố nằm ven bờ Hậu Giang, từ lâu Cần Thơ đã được người dân ở đây xem như thủ phủ của cả miền Tây. Đến Cần Thơ thưởng thức đặc sản, đi tàu trên sông Hậu thăm Bến Ninh Kiều, ghé chợ nổi Cái Răng – hồn của sông nước – xem họp chợ buổi sớm mai… đã tạo nên một ấn tượng khó phai trong lòng du khách.
“Cần Thơ gạo trắng nước trong
Ai đi đến đó lòng không muốn về”
Hai câu ca dao nổi tiếng đã khắc họa được phần nào nét đẹp của vùng đất trù phú, sầm uất, nhưng không kém phần lãng mạn, êm đềm của miền đất Tây Đô.
Nằm ngay đầu vàm sông Cần Thơ, từ xa xưa bến Ninh Kiều đã nổi tiếng với vẻ đẹp của làng chài, bến nước, là nơi dạo chơi của nam thanh nữ tú. Ở đây, du khách có thể ngồi trên băng đá, dưới những hàng liễu rũ thơ mộng, ngắm nhìn dòng sông trôi mênh mang, tấp nập xuồng ghe xuôi ngược và nghe lòng thanh thản đón những cơn gió mát lành từ sông Hậu thổi về. Dọc theo Bến Ninh Kiều, có một công viên dài và đẹp với tượng Bác Hồ uy nghiêm sừng sững giữa bốn bề gió lộng. Phía dưới sông có nhà hàng nổi trên những chiếc du thuyền sang trọng, thanh lịch. Trên đường lộ là những nhà hàng, khách sạn có kiến trúc hiện đại với đầy đủ tiện nghi. Nơi đây hầu như luôn nhộn nhịp, đông vui, dập dìu khách bốn phương. Nhất là vào các dịp lễ hội, mùa cưới.
Đêm ở Cần Thơ không gì thú vị bằng được dạo chơi trên Bến Ninh Kiều, ngắm mặt sông nước lấp lánh ánh đèn của những nhà hàng nổi và tàu thuyền qua lại. Giây phút nhìn xuống dòng Hậu Giang, dõi theo những đám lục bình dập duềnh trên sóng nước, xa xa, phía bên kia là những bãi bờ xanh mướt, mơ hồ trong sương khói, du khách mới cảm nhận được trọn vẹn sắc thái vừa nên thơ, vừa bình dị, lại vừa sầm uất hiện đại của nơi đây. Không chỉ vậy, cứ mỗi độ xuân về, Bến Ninh Kiều còn là chợ hoa kiểng trung tâm của tỉnh. Dạo Bến Ninh Kiều ngày xuân, du khách sẽ được chiêm ngưỡng cô gái Cần Thơ xinh đẹp giữa muôn màu hoa, sắc áo, như câu nói “Cần Thơ có bến Ninh Kiều. Có dòng sông đẹp với nhiều giai nhân”.
Về miền đất Tây Đô là về với miệt vườn sông nước, nơi giao thương nối liền các thôn xã bằng xuồng, thuyền dọc ngang sông Hậu, sông Cần Thơ và rất nhiều kênh, rạch. Chính vì vậy mà ở nơi đây tồn tại các loại hình mua bán, dịch vụ “nổi” trên sông như: chợ nổi “Cái Răng”, nhà hàng nổi “Du Thuyền”… đậm chất miền Tây.
Mỗi buổi sớm mai, lúc bình minh chưa ló dạng, Bến Ninh Kiều còn tối không rõ mặt người. Trên mặt sông Hậu tối sẫm bắt đầu có tiếng máy nổ của thuyền, xuồng qua lại, chuẩn bị họp chợ nổi trên sông. Khác với chợ trên đất liền, trong chợ nổi, chỉ có tàu thuyền to mới đứng yên một chỗ, tàu thuyền nhỏ thì có thể tùy ý chèo lách dọc ngang. Rất dễ nhận biết tàu xuồng ai bán thứ gì vì chúng được treo trên cột cây sào, thôi thì đủ cả, nào bắp cải, bí ngô, chuối, cam…. Đặc biệt ở đây là không bán cá, bán thịt, mà chỉ bán rau quả với giá được tính theo sọt hay tất cả số lượng có trên xuồng. Đi chợ nổi, du khách có thể ăn phở ở quán bán phở… trên một chiếc xuồng con. Thuyền nào có người muốn ăn sáng, con xuồng bán thức ăn sẽ đỗ lại cạnh thuyền đó, bát hủ tiếu hay tô cháo sẽ được chuyển sang, sau khi tiếp đón người khách này chiếc xuồng ấy lại rời đi tìm người khách mới. Đi chợ nổi hiện đã trở thành một hoạt động du lịch được du khách trong nước và quốc tế thích thú. Là hồn của sông nước, mô hình chợ nổi đã có từ xa xưa ấy đã trải qua bao thăng trầm, mang trong mình một nét sinh hoạt đặc trưng của văn hóa Nam Bộ.
Bên cạnh đó, một số điểm đến không kém phần độc đáo ở miền đất Tây Đô là: vườn du lịch Xuân Mai, làng du lịch Mỹ Khánh, nhà cổ Bình Thủy, đình Bình Thủy, chủa Nam Nhã, chùa Hội Linh, chùa Ông, Chùa Khánh Quang… Ngoài ra còn phải kể đến hai lễ hội được tổ chứa hằng năm tại đình Bình Thủy là “Lễ hội Thượng điền” từ 12 đến 14 tháng 4 âm lịch, và “Lễ hội Hạ điền” từ 14 đến 15 tháng 12 âm lịch. Ở lễ hội Thượng điền, người ta tổ chức thỉnh sắc thần trên xe rồng tán phượng. Trong lễ Hạ điền, người ta tổ chức thi làm bánh, mứt để tế thần.
Nhìn từ bên kia Xóm Chài, toàn cảnh Ninh Kiều và phố xá rực rỡ ánh đèn soi bóng xuống mặt nước phù sa lấp lánh như rắc vàng thật lung linh, huyền ảo, làm xao xuyến lòng người.

Hằng năm vào khoảng mồng 1 tháng 7 đến 27 tháng 8, hàng nghìn người lại nô nức kéo nhau đi chinh phục núi Phú Sĩ. Hầu hết họ khởi hành vào ban đêm để có thể ngắm mặt trời mọc trên đỉnh núi. Thời tiết có lúc khắc nghiệt, con đường dài khó khăn, hiểm trở, xong bước chân tìm về nguồn cội không lúc nào ngơi nghỉ.

Phú Sĩ sơn (Fujisan hoặc Fujiyama) là một núi lửa còn sống, trải dài trên địa phận tỉnh Shizuoka và tỉnh Yamanashi phía Tây Nam Tokyo, gần bờ biển Thái Bình Dương và trung tâm đảo Honshu. Là ngọn núi cao nhất Nhật Bản với độ cao tuyệt đối 3,776 mét được hình thành cách đây 100 năm, được bao bọc bởi cụm quần thể bao gồm 5 hồ nước ngọt lớn gọi là Fujigoko  – một vẻ đẹp tuyệt vời do tạo hóa ban tặng.

Trong tiếng Nhật kế thừa từ tiếng Hàn cổ, Phú Sĩ có nghĩa là “không gì sánh được”. Tên gọi có thể bắt nguồn từ chiều cao địa lý đơn thuần, đến nay vẫn đúng ngay cả khi xét theo khía cạnh tinh thần. Chẳng điều gì có thể sánh nổi với núi Phú Sĩ về khả năng khơi dậy tinh thần dân tộc, ngay cả trong xã hội hiện đại Nhật Bản luôn đề cao chủ nghĩa cá nhân. Từ trên cao nhìn xuống, Fuji-san – như người Nhật vẫn gọi núi Phú Sĩ – giống như một núi bột khổng lồ (bột mì về mùa đông – bột than chì về mùa hạ). Vào những ngày đẹp trời, người ta có thể chiêm ngưỡng đỉnh núi bột này từ thủ đô Tokyo cách đó khoảng 113km. Núi Phú Sĩ bao trùm lên tất cả.

Đây không chỉ là khu bảo tồn thiên nhiên thiêng liêng nhất của Nhật Bản từ nhiều thế kỷ mà còn là biểu tượng và tên gọi của hàng trăm công ty, trong đó có những tập đoàn xuyên quốc gia khổng lồ như Fuji Photo Film và Fuji Xerox. Người Nhật làm bánh xốp, bánh quy giòn và nhiều loại thức ăn kiêng khác theo hình núi Phú Sĩ. Người ta đưa núi Phú Sĩ vào nhà tắm tập thể, vào vô số những sản phẩm của Nhật Bản như một biểu tượng cho sự thanh bình và sức mạnh. Nhật Bản không có núi Phú Sĩ cũng giống như nước Mỹ không có tượng Nữ Thần Tự Do vậy.

Việc trèo lên ngọn núi được xem là việc thiêng liêng mà ai cũng cố gắng làm được một lần trong đời. Những người leo núi thường bắt đầu cuộc hành trình từ buổi chiều, xuyên qua đêm để rồi sáng hôm sau được ngắm nhìn cảnh mặt trời mọc ở trên núi. Từng đoàn người nối đuôi nhau trong màn đêm, ánh đèn pin rực rỡ tiến thẳng lên đỉnh núi, tưởng chừng như một con rồng khổng lồ đang cuộn mình.

Người Nhật rất yêu núi Phú Sĩ nên ngạn ngữ cổ có câu: “Ai không leo lên núi Phú Sĩ là người điên”. Nhưng chinh phục đỉnh núi Phú Sĩ quả không phải điều dễ thực hiện, với thời gian leo lên mất từ 3 đến 7 giờ trong khi thời gian đi xuống mất khoảng 2 đến 5 giờ, chưa kể đến sự thay đổi của thời tiết và tiêu hao sức lực. Lắm lúc cái lạnh đến thấu xương bởi nhiệt độ xuống chỉ còn vài độ C, khi mặt trời lên cao nắng lại chói chang vào giữa mặt. Vì vậy mà có câu: “Chỉ có những kẻ điên mới leo lên Phú Sĩ lần thứ hai”. Thế nhưng có người đã hơn 800 lần chinh phục đỉnh núi Phú Sĩ và có không dưới chục nghìn người đã quay trở lại đỉnh núi đầy sức quyến rũ và bí ẩn này để được làm… người điên. Thế mới biết sự hấp dẫn của núi Phú Sĩ mãnh liệt đến chừng nào.

Với vẻ đẹp hùng vĩ, tráng lệ, đỉnh núi Phú Sĩ quanh năm tuyết phủ đã và đang không ngừng làm cháy lên ngọn lửa đam mê trong lòng du khách.

 

Khác với các loại bánh khác, wagashi là loại bánh ngọt được làm theo mùa, đặc biệt đẹp mắt và đầy tính nghệ thuật. Xuân – hạ – thu – đông bốn mùa thay đổi, wagashi cũng có bốn loại bánh mang hương vị đặc trưng, hòa quyện với vẻ đẹp Nhật Bản và tạo nên bản hợp xướng của cả năm giác quan khi thưởng thức.

Wagashi (Hòa quả tử) là tên gọi chung cho những chiếc bánh truyền thống của Nhật Bản từ lâu đời, thường được làm từ các nguyên liệu chủ yếu là thực vật như azuki (đậu), kanten (thạch rong biển), wasambon (đường mía), gạo nếp mochi. Một chiếc bánh có thể là một bức tranh, một tác phẩm nghệ thuật tinh xảo, độc đáo, lại rất gần gũi với thiên nhiên, được lấy cảm hứng từ chính cuộc sống đầy sắc màu với tên gọi đậm chất thơ trữ tình Nhật.

Dường như cảm hứng là vô tận, sự sáng tạo không bao giờ ngừng. Tùy theo mùa, theo ngày, theo tâm trạng người làm và cả tâm trạng người thưởng thức mà người ta làm bánh dùng cho những dịp khác nhau. Chẳng hạn như bánh gạo nếp hanabira mochi dành để đón mừng năm mới; bánh kobai mochi với hình dạng giống quả mơ Nhật Bản (ume), được trang trí như những cánh hoa ume đỏ chỉ có vào đầu mùa xuân. Hay bánh hishi mochi được dát thành những miếng hình thoi nhiều màu, đặt xếp lớp lên nhau được dùng trong tháng ba; bánh dẻo ngọt hanamidango lại được dùng để thưởng thức dưới tán cây anh đào… Wagashi thường được dùng trong các tiệc trà, ý nghĩa, cách sắp xếp và thưởng thức mỗi loại bánh đó cũng là một nghệ thuật rất đặc biệt, thể hiện trình độ văn hóa của mỗi người.

Thưởng thức wagashi trước hết là ở vẻ đẹp hoa mỹ, nghệ thuật sáng tạo hình dạng wagashi ko hề thua kém sự sáng tạo trong thi ca, văn học hay bất cứ một hình thức nghệ thuật nào trong nền văn hóa Nhật Bản. Sau đến cảm giác nâng niu chiếc bánh mát lạnh trên tay, thật mềm mại, thanh khiết. Chạm nhẹ đầu lưỡi vào bánh nghe mùi hương thoang thoảng của khí tiết, của đậu, của gừng, của khoai… tỏa ra thơm mát. An vào rồi mới thấm thía cái tuyệt vời của những thức đặc trưng theo mùa hết sức độc đáo của wagashi.

Thật sự ở Nhật có hàng trăm loại wagashi khác nhau, dưới đây là một số loại wagashi điển hình:
Namagashi: Một loại bánh được làm thủ công, tùy theo mùa sẽ có những cách trang trí khác nhau. Hình dạng của namagashi gợi nhớ đến hình ảnh một nước Nhật với 4 mùa tươi đẹp. Đó là hình ảnh của hoa lá đâm chồi nảy lộc khi xuân về, của cây lá xanh tươi mùa hạ, màu rực lửa của cánh rừng mùa thu và sức sống mãnh liệt cảu hoa mận mùa đông…
Yokan: Một loại bánh có vị giống như thạch, được làm từ đậu đỏ, rong biển và đường, rất phổ biến vào mùa hạ. Trước đây món bánh này rất phổ biến vào thời Edo và thường được dùng làm quà tặng
Monaka: Một loại bánh có lớp vỏ giòn làm từ bột nếp, ở giữa là nhân đậu đỏ. Vỏ bánh thường được làm thành hình hoa anh đào hoặc hoa cúc
Higashi: Một loại bánh được làm từ bột gạo nếp và đường mía, cho vào nặn thành hình và để khô
Hanabiramochi: Một món bánh thường được người Nhật thưởng thức vào dịp đầu năm mới. Tên gọi Hanabiramochi thực chất có nghĩa là “loại bánh có hình dạng cánh hoa”, có nguồn gốc từ Hishihanabira (một món bánh được Hoàng gia ăn vào dịp năm mới), và trở nên phổ biến vào thời Minh Trị
Taiyaki: Một loại bánh nướng hình con cá, thường có nhân đậu đỏ, được dùng những khi trời lạnh, và là món quà được trẻ em, người già rất ưa thích
Dango: Một loại bánh được làm từ bột gạo dính, vo tròn làm thành từng viên tròn nhỏ, sau đó xiên vào xiên và phủ lên trên bánh 1 lớp mật đường
Manju: Một loại bánh đậu hấp với lớp áo bên ngoài làm từ bột gạo

Hằng năm, đến mùa Giáng Sinh là tất cả các gian hàng lũ lượt trưng bày những món ngon, vật lạ dành để biếu xén và trưng bày trong tủ kính. Làm một cuộc khảo sát nhỏ, dễ thấy rằng thứ được ưa chuộng nhất là rượu. Rượu được mua về thường là rượu ngoại, rượu được có mặt trong hầu hết những buổi tiếp rước khách quý cũng là rượu ngoại, rượu được ưu ái xếp lên tủ kính trưng bày cũng là rượu ngoại… rượu ngoại càng để lâu càng quý, càng đắt tiền, nhìn vào đã thấy thơm nồng đến lâng lâng.

Rượu Tây có đến hàng trăm loại, loại thì uống thường, loại phải ướp lạnh. Ngay cái ly uống rượu cũng có hàng mấy chục loại khác nhau. Tất thảy đều có danh hạng rượu, loại 3 sao đôi khi được ghi “V.S” là loại rượu trẻ non tay nhất, tuổi rượu từ 3 đến 5 với giá bán phổ thông cho dân ghiền. Rượu “V.S.O.P” hay còn gọi “Very Special Old Pale”, là loại rượu từ 7 đến 10 tuổi. Đặc biệt chữ “Pale” đây là màu lợt của rượu thứ hảo hạng, uống vào ngọt như mía lùi, thấy khoái cả cần cổ. Napoleon là loại rượu Hoàng Đế, ngay cả khi lò rượu không thèm dùng chữ Napoleon, chỉ xài danh từ “Cordon Blue” thôi cũng đủ “xứng danh anh hùng”. Rượu Extra, hay còn gọi Extra Veiile, Grande Reserve mới đích thị là thứ quý của trần gian hoa lệ, với tuổi già sơ sơ cũng 45 tuổi sắp lên.
Rượu mạnh tiếng Mỹ gọi là Brandy, tiếng Pháp gọi là Cognac. Cognac rộng khoảng 250 ngàn acres, chuyên cất chế rượu mạnh, là một tỉnh lỵ nhỏ nằm trong 3 tỉnh lớn: Angousmois, Saintonage và Aunis ở miền Nam nước Pháp. Bên ngoài được bao bọc bởi biển Atlantic, trong có dòng sông Charente chảy qua, luôn tấp nập ghe xuồng mua bán, xuôi ngược Bắc Nam. Trong những lần buôn rượu Pháp sang Hòa Lan, người lái buôn gốc Đức tên Den Helkenwijk đã nghĩ ra phải chưng cách thủy rượu chát để cô đặc nước rượu. Đun nóng đến một nhiệt độ vừa đúng 173oF (tương đương 78.3oC) thì rượu chát bốc thành ethyl-alcohool, hơi nóng được đông lạnh lại thành một chất rượu mạnh. Nhưng để trở thành Brandy phải chưng cất thêm một lần nữa, uống vài ly rồi thì khà vào lò, lò phựt lửa thì thành công. Tiếng Hòa Lan gọi “Brandewijin”, nghĩa là burned-wine = đốt rượu.
Brandy khi cất xong chỉ có một chất lỏng trắng trong, có vị cay vị say, nhờ được chưng cất trong thùng tônô (tonneaux) đóng từ gỗ cây sồi mọc ở rừng Limousin nổi tiếng mịn và không rỉ nước, có nhiều chất tannin đăng đắng, tạo nên màu vàng nâu sẫm và hương vị đặc biệt của Cognac mà không nơi nào trên thế giới làm được.
Tứ đại thiên vương trong thiên triều hảo tửu Cognac là:
Bisquit Dubouche: Lập năm 1819, đây là một trong tứ đại thiên vương làng rượu, rượu trong kho gồm 3 danh hạng: 3 Stars, V.S, rồi V.S.O.P kế đến là Napoleon, rồi Fine Champagne, sau đó là loại cực hiếm Extra Vieille.
Hennessy: Cánh tay sắt cầm búa rìu tung hoành thiên hạ, chưa gặp đối thủ vừa ý, gồm các danh hạng: Bras Arme (Cánh tay Bạc = tương đương 3 Stars), loại V.S.O.P, loại Bras d Or (Cánh tay Vàng = tương đương V,S), loại XO (tương đương V.S.O.P) có mùi thơm nhẹ như bông trái plum (đào tím), và loại Extra.
Martell: Loại rượu ngon quốc hồn quốc túy dòng Gaulois nước Pháp, phẩm chất ngon hơn Hennessy, gồm các danh hạng: Dry Pale bán tại Anh, V.S tương đương 3 Stars, cao hơn là Medaillon V.S.O.P, loại Cordon Blue, Cordon d Argent (tuổi trên 35), Extra Vieille Martell (chỉ có thượng lưu quý tộc được phép mua từ lò Martell, tuổi không dưới 45)
Remy Martin: Tuyệt vời không thua gì Martell, do 2 đại gia kiểm soát là Max Cointreaux (hãng làm rượu mùi có tiếng nhất của Pháp) và Martin Remy G. Remy Martin không có nhãn 3 Stars, nhưng ra liền V.S.O.P (đúng trên 5 năm). Kế đến là Lancet d Or, Grande Reserve, Vieille Reserve, Age Inconnu.
Gan ngỗng béo là món ăn không thể thiếu trên bàn tiệc mừng Giáng Sinh của các nước phương Tây, điều đó giải thích tại sao khi thưởng thức món patê gan ngỗng béo, thực khách lại rộn ràng không khí tưng bừng náo nhiệt của lễ hội Giáng Sinh.
Món Gan ngỗng béo hay còn gọi Le Foie Gras, là một món ăn được chế biến từ phần gan lớn quá cỡ của ngỗng đã được vỗ béo đặc biệt bằng ngô và ngũ cốc, nhợt màu hơn gan ngỗng thường, đặc biệt mềm như bơ vậy. Người ta không nói “ăn” gan ngỗng béo mà là “thưởng thức” hương vị tuyệt vời của nó. Để làm được 800gr patê gan ngỗng béo theo một trong nhiều cách của châu Âu, người ta cần đến 350gr gan ngỗng béo băm hoặc xay nhuyễn, cùng 250gr nạc dăm heo xay nhuyễn, và 200gr mỡ gáy heo xay nhuyễn trộn với rượu cognac, hành tím, hành tây băm nhuyễn, trứng gà, ruột bánh mì nhúng sữa tươi vắt vừa ráo xé nhỏ, muối, tiêu… rồi xay nhuyễn lại bằng máy xay sinh tố hoặc máy xay thịt có tốc độ chuyên dùng. Kế đến là lót một miếng mỡ sa vào khuôn kim loại, sử dụng thùng nướng nhôm đặt trên bếp gas, than… hoặc bỏ lò nướng điện từ 20 – 25 phút. Thăm chừng patê khi patê chín, thử lại bằng cách dùng tăm đâm vào, nếu thấy nước trào ra là được. Khi ăn, xắt patê thành từng lát dày, dọn cùng với rượu vang. Cốc vang đỏ sóng sánh chao nghiêng sẽ càng làm tăng thêm dư vị của món patê gan ngỗng béo, vốn là đặc sản mùa đông và là niềm tự hào của nền ẩm thực Pháp.
Món patê gan ngỗng béo được chế biến theo phong cách châu Âu thường nướng cho thành phẩm ở dạng khô, chắc và dễ cắt lát, bảo quản trong tủ lạnh. Không mềm xốp, dễ trải mỏng lên bánh mì như cách chế biến của người Việt Nam. Về phong vị, phong cách châu Âu mang lại một vị thơm béo nồng nàn đặc trưng, trong khi phong cách ẩm thực Việt mang lại một hương vị Á Đông vừa thơm, vừa thanh, vừa phù hợp với mọi loại bánh dùng kèm. Đó có thể là một miếng patê nướng, một miếng patê hấp trải mỏng trên lát sandwich, cũng có thể là một ổ bánh ngọt nhân patê – xúc xích nướng mềm xốp, thơm béo, ngọt ngào đến ngất ngây nơi đầu lưỡi.
Bí quyết để món patê gan ngỗng béo được vừa miệng, và có hương vị tự nhiên ở chỗ muối được nêm rất ít, bởi gan động vật luôn là loại thực phẩm có vị rất đậm đà. Đặt biệt, bạn có thể đổi nạc dăm heo bằng nạc thăn lưng để thành phẩm có được độ mịn, xốp, lại ít béo, gần gũi với người Việt Nam hơn. Nếu bạn sợ béo, có thể giảm cân lượng mỡ gáy heo, hoặc không sử dụng nguyên liệu này. Ngoài ra, bạn có thể thay mỡ sa bằng cách phủ đều đáy khung kim loại bằng một ít dầu ăn để khối patê sau khi chín không bị khô mặt. Bạn cũng có thể dùng rượu trắng ngon thay rượu cognac, chỉ dùng hành tím thay cho hành tây để món patê gan ngỗng béo của mình thêm thơm ngon hương vị Á Đông. Bàn tiệc đêm Giáng Sinh sẽ càng thêm phong phú, đa dạng nếu món patê gan ngỗng béo được dọn cùng rượu vang đỏ, cháo hành, xúc xích nướng, vịt quay, xà lách, hoa quả, tôm hùm, cá saumon, và các món hải sản…
Mặc dù ngày nay gan ngỗng béo đã có mặt ở rất nhiều vùng trên đất Pháp cũng như ở nhiều nước trên thế giới, món ăn này vẫn gắn liền với vùng Tây Nam nước Pháp, nơi được xem là cái nôi của nền ẩm thực nước này. Bạn có thể thưởng thức món patê gan ngỗng béo tuyệt vời này tại nhà hàng Au Manior De Khai ở số 251 Điện Biên Phủ, P.7, Q.3, TP.HCM.
Đi qua mùa thu, gió đông bắt đầu tràn về trên khắp phố phường Hà Nội. Ở Sài Gòn, nơi quanh năm chỉ hai mùa mưa nắng, mưa cũng bắt đầu dầm dề, tầm tã. Đấy chính là lúc người ta nhớ da diết món lẩu thơm ngon, nóng hổi, thân tình.
Món lẩu còn gọi là món “tạp pí lù”, có nghĩa là có đủ thứ, cái gì cũng có thể cho vào nồi lẩu. Họ hàng nhà lẩu có trăm ngàn con cháu, đứa nào cũng bụ bẫm, xinh xắn, mặn mà nét duyên. Từ món lẩu bò, lẩu dê, lẩu mắm, lẩu cá kèo, lẩu lươn, lẩu xí quách, lẩu thập cẩm… đến lẩu Thái, lẩu nấm, lẩu gà lá giang, lẩu rắn… nhất nhất đều ngọt nước canh lẩu, đậm đà phụ vị, hòa trộn với màu xanh mướt mắt của rau cải. Tùy từng món và tùy cách nấu của mỗi quán mà lẩu có một phong vị khác nhau, nhưng nét đặc trưng của món lẩu là khi ăn, người ta nấu một nồi canh lẩu, sau đó dọn lên các món phụ liệu cùng nước chấm để phục vụ tại chỗ, ai thích ăn gì thì bỏ vào nồi “tái chín ăn liền”. Muốn nấu lẩu ngon phải nấu trong “nồi lò” có tay cầm, được làm từ đất nung tráng men có nguồn gốc từ Trung Quốc, khi ăn đặt nồi trên bếp than hồng, quạt lửa nghe nóng hừng hực, thơm ngon vô kể. Ngoài ra, người ta còn nấu lẩu trong một bếp than hình ống tháp, có “đeo” chung quanh ống là một cái nồi để chứa nước dùng và thực phẩm, thường bỏ than từ trên xuống, quạt từ dưới lên… Hay phổ biến nhất là nấu lẩu trong một cái nồi tròn dẹp dẹp bằng kim loại có nắp đậy (bằng thủy tinh) đặt trên một bếp gas mini… Nước canh lẩu thập cẩm thường được nấu từ xương thịt và xương ống các loại, tôm mực khô, sá sùng, củ cải, củ hành tây, măng, lá thơm, thảo quả, hột ngò, củ sả, gừng…
Trong khi đó, nước canh lẩu mắm thường được nấu từ mắm cá sặc, mắm lóc, mắm linh, mắm trèn, người sành ăn lại chuộng mắm bò hóc của người Khmer ở miền Tây. Rau dọn kèm món lẩu gồm các loại như: rau muống, rau nhút, bạc hà, đậu bắp, cà chua, bông điên điển, khổ qua, bắp chuối, cải ngọt… Thoạt nhìn, cứ tưởng cái gì cũng có thể cho vào nồi lẩu, nhưng thật ra nó có những quy tắc ẩm thực rất riêng. Món bông so đũa tưởng bỏ đi nhưng lại là hương vị không thể thiếu trong nồi lẩu cá bông lau chua cay, ăn lẩu Thái lại không thể thiếu mớ rau muống đã nhặt hết lá, còn cải xanh, rau đắng kể cả bông điên điển lại ăn rất bắt với lẩu mắm… Còn gì tuyệt vời hơn giữa cái lạnh của trời đất, được quây quần bên nồi lẩu cùng với người thân, bạn bè. Cái nồi nho nhỏ ấy sẽ trở thành một phần của thế giới, chất chứa được hết tất cả những dư vị về cuộc sống ngay tại lát cắt của thời điểm này, mọi người như gần gũi với nhau hơn.